Nói đến Mỹ thuật, chúng ta nói đến điêu khắc, hội họa và kiến
trúc. Ba thể loại này thường gắn liền với nhau, cùng tồn tại và phát
triển.
Sự hình thành và phát triển của Mỹ thuật Việt Nam về mặt
kiến trúc và điêu khắc đã được đề cập tới từ sách báo tranh ảnh nhiều
bởi các công trình này còn tồn tại nhiều, ai cũng nhận thấy. Nhưng nhìn lại
những bức phù điêu, chạm khắc, tranh tường... ở các ngôi chùa chúng ta
có thể hiểu giai đoạn đầu là những nét vẽ của các nghệ nhân lên mặt
phẳng trước khi dùng dao đục chạm khắc để tạo thành các hình sóng
nước, hoa lá, rồng phượng... Rõ ràng là hội họa với khía cạnh này
người ta gọi là “Đồ hoạ” hay nghệ thuật đường nét.
Bên cạnh ý nghĩa của nghệ thuật đường nét, chúng ta còn thấy mặt thứ
2 của nghệ thuật hội hoạ đấy là vận dụng màu sắc. Thời kỳ đầu, chỉ thấy
màu đo của Thổ hoàng được sử dụng là chính, về sau, màu sắc trên tranh trang trí đã phong phú nhiều, chủ yếu là đỏ sẫm, lục, lam, vàng và đen.
Các thể loại tranh:
Tranh minh hoạ:
Trong tất cả các sản phẩm mỹ thuật của Phật giáo, phần minh hoạ là không
thể thiếu.Đôi khi là in hoặc vẽ trên những mẫu giấy hoặc cuốn kinh.
Trong các bản kinh cổ in trên giấy gió, bao giờ cũng có những hình
tranh minh hoạ, cũng có lúc là để minh hoạ kinh bằng tranh cho người
đọc dễ hiểu, cũng có lúc là những bức tranh các vị Phật hoặc Phật Tam
thế (12 vị Kim cương trong kinh Kim Cương). Thậm chí
còn có nhiều cuốn tranh dạy người xem cách tu tập và hiểu sâu nghĩa của
phép tu. Tiêu biểu như cuốn “Tranh vui thiền” (Tác giả Minh Quang).
Kinh Pháp Hoa bằng tranh (Tác giả Trung Quân), tích truyện Kinh Địa Tạng
(Tác giả Trọng Đức). Tuy không phải đọc nhiều nhưng
qua những hình ảnh tranh vẽ của cuốn sách, các Phật tử có thể hiểu được
ý nghĩa cao sâu của lời Phật dạy một cách dễ dàng.
Tranh minh hoạ Phật Giáo còn đóng góp rất tích cực, luôn có mặt ở các
báo, tập san của Nhà chùa như tuần báo Giác ngộ, Nguyệt san Giác ngộ,
Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Đặc san Chùa Hương... góp
phần cho các báo Phật Giáo ngay càng thâm nhập sâu tới người xem một
cách rộng rãi, số người đọc ngày một tăng, trở thành món ăn tinh thần
của người dân Việt.
3. Tranh tường (bích họa)
Tranh tường là một phần không thể thiếu vắng trong mỹ thuật Phật
Giáo, cùng với điêu khắc, kiến trúc, đã dựng lên thế giới của Phật giáo.
Những bức tranh tường tiêu biểu hiện còn tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) và
một số chùa khác. Bộ tranh 18 vị La Hán, tranh tóm tắt lại cuộc đời đi
tu của Đức Phật từ khi rời Hoàng cung, trên đường gặp ma chướng đến khi
giác ngộ cho người xem học tập và tu trì, đồng thời cũng có những bức
tranh vẽ địa ngục và niết bàn đã giải thích được luật nhân quả vốn trừu
tượng, bày ra 2 viễn cảnh tương lai, con đường đi đến cõi cực lạc và con
đường dẫn xuống địa ngục để Phật tử trông thấy mà tự lựa chọn.
Cách dùng hình tượng thảnh thơi an lạc tại cõi niết bàn đối lập với
những hình phạt ghê gớm ở chốn âm cung, khi đập vào mắt người xem tự
nhiên làm cho người ta rùng minh kinh sợ, khi nghĩ đến lúc phải ra nơi
phán xét cuối cùng nếu mình làm những điều độc ác (tranh Địa ngục hay
tranh Thập điện Diêm vương – Chua Trăm Gian, Chùa Hương). Những tranh vẽ
có sức mạnh giáo dục, truyền tải tới người xem những lời giáo lý răn
dạy của Đức Phật tới Phật tử nhằm xây dựng con người có lòng vị tha, từ
bi, hỷ xả.
Những người hoạ sĩ Phật tử khi vẽ tranh tường này cũng phải đã từng
học và hiểu nội dung của kinh Phật, hiểu được sự hình thành, quá trình
tu tập và hoằng pháp của Đức Phật thông qua những tác phẩm hội hoạ của
mình nhằm truyền tải cho người xem những ý tưởng mà mình đã lĩnh hội
được, đấy cũng chính là thành công về mặt hội họa Phật Giáo.
Đúng như văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ở Thanh Hóa có nói rõ “Tường
vách vẽ đồ, chư duyên nhân quả thiên biến vạn hoá, rất là huyền diệu,
người nào trông thấy cũng cố gắng làm điều thiện, răn bỏ điều ác, đấy là
nơi cư trú của Đức Phật vậy” (thơ văn Lý Trần).
4. Tranh chữ:
Hội họa Phật Giáo nhiều khi liên hệ khăng khít với thi ca. Những bức
tranh đẹp cũng như bài thơ thường là các tác phẩm trong cái này có bóng
dáng cái kia. Đúng như lời khen của cổ nhân “Thi trung hữu họa, họa
trung hữu thi”.
Thật vậy, sự phối hợp giữa hội họa và viết chữ đẹp đã trở thành một
biểu hiện nghệ thuật. Ngay bản thân một dòng chữ đẹp đề chú trên tranh hay 1 bức tựa đề cổ tự (tên chùa), chữ trên những bức hoành phi, câu đối... cũng có thể coi là những bức tranh đẹp và có phong cach độc đáo.
Vua Lý Thánh Tông năm 1071 đã ngự viết chữ “Phật”
dài tới 6 trượng 6 thước rồi cho khắc vào bia đá chùa núi Tiên Du. Tấm
bia độc đáo này nay không còn nhưng ta còn giữ một tấm bia ở chùa Hòm
(Hải Dương) cao 1,6m dựng năm 1331 mặt trước chạm chữ “Phật” lớn, chắc
hẳn trước khi đục người nghệ sĩ Phật tử ấy phải viết chữ lên mặt bia,
sau đó mới theo nét viết mà đục, cậy bỏ đi phần nền.
Nét của chữ “Phật” mềm mại, có chỗ mở rộng, có chỗ thu lại dần dần,
có chỗ cong duyên dáng, lại có chỗ phẩy đột ngột và mạnh mẽ đòi hỏi
người viết phải nghiên cứu, tay và mắt phải luyện như tập vẽ mới để
lại cho hậu thế một tác phẩm chữ “Phật” viet phóng khoáng như vậy.
5. Tranh Mandala:
Những năm gần đây tại một số ngôi chùa, các bức Mandala được trình
bày sắp đặt một cách nghiêm túc ở những nơi trang trọng nhất, những nơi
thờ tự như ở chùa Hương, chùa Thầy, chùa Quang Ân... Những bức Mandala
này phần lớn được vẽ khắc trên đồng, vẽ trên vải... với cách vẽ cân đối.
Trọng tâm là một điểm thu hút tất cả năng lượng vũ trụ bên ngoài và
năng lượng của người tín tâm được khai mở. Bởi vậy Mandala được coi là
một “Bản tôn hoá Phật”. Với những bức Mandala đã đánh dấu nền
hội họa Phật Giáo Việt Nam có thêm những sáng tác mới với một phong cách
mới nhưng vẫn giữ được nguyên tắc chung của Mandala Phat Giáo. Hiện nay
có một số hoạ sĩ Phật tử đã mạnh dạn vẽ những bức tranh Mandala mang
tinh thần và phong cách thể hiện riêng biệt của hội họa Việt Nam.
Kết luận:
Sự đóng góp của hội hoạ Phật Giáo trong nền Mỹ thuật Việt Nam.
Hội họa Phật Giáo Việt Nam từ những giai đoạn đầu đã được phát triển
phong phú, muôn hình muôn vẻ. Thiên nhiên nhiệt đới rất giàu cảnh sắc,
đấy chính là nguồn cảm xúc cho các nghệ sĩ nói chung khi sáng tác nghệ
thuật, không nằm ngoài những cảm xúc vậy các nghệ sĩ Phật tử cũng đưa
thiên nhiên vào các tranh trang trí trong chùa nhưng không sao chép
nguyên xi mà chọn những gì hiền hoà nhất, thơ mộng nhất. Những hình hoa
Cúc, hoa Sen, những con chim, con bướm, con cá... và cả những em bé
xinh xắn rất thơ ngây vừa bơi lội vừa hái hoa... Đó là những hình ảnh
gắn liền với cuộc sống hàng ngày, và các tạng kinh điển của nhà Phật.
Song những bức tranh Phật Giáo của thời kỳ đầu đã mất đi theo sự hủy
diệt của Kiến trúc, còn tranh giấy và lụa thì chất liệu dễ hư nát,
không tồn tại lâu dài do khí hậu nhiệt đới, đấy là thiệt thòi lớn của
chúng ta. Bù vào đấy chúng ta còn lại những bức tranh đã vẽ từ những thế
kỷ 17-18 lại đây. Phần nào chúng ta có thể hiểu được cách vẽ của
người xưa, các họa sĩ không chú trọng nhiều đến yếu tố ánh sáng mà chú
trọng nhiều về phần cơ bản cua hình tượng, cũng không xác định vị trí
đứng vẽ như ở tranh cổ điển phương tây. Nhấn mạnh các chỗ quan trọng,
đó chính là đặc trưng riêng đánh dấu sự thành công của hội hoạ Phật
Giáo Việt Nam trong nền Mỹ thuật Việt Nam.
Sự hiện diện của các hoạ sĩ hiện nay.
Hoà chung với sự phát triển của mỹ thuật mọi miền. Các hoạ
sĩ cũng muốn đóng góp sức mình trong quá trình phát triển hội họa nước nhà. Có thể nói người dân hiện nay đã biết nhìn nhận về cái đẹp,
ai
cũng muốn hướng đến món ăn tinh thần mang phong cách và cá tính riêng của mình khi chọn lựa thể loại, chất liệu tranh trang trí cho ngôi nhà mình.